Suy Niệm Lời Chúa: Xh 17:3-7; Rom 5:1-2.5-8; Ga 4:5-42
Hôm nay Phúc Âm Gioan cho chúng ta thấy Chúa là mạch nước hằng sống. Thực ra đây là công cuộc truyền giáo của Chúa Giêsu, vượt ra ngoài biên cương người Do Thái, đến với dân ngoại: Samaria.
Chúa Giêsu đă ra ngoài biên cương Do Thái, đến với dân ngoại là xứ Samaria. Nơi đây chúng ta thấy cảnh Chúa Giêsu gặp người phụ nữ Samaria tại giếng Giacóp, Người khởi sự đối thoại, và cảm hóa người này, để rồi cuối cùng, qua người phụ nữ truyền giáo này, cả làng người Samaria cùng tin vào Chúa.
Chúng ta cùng nhau nh́n rơ hơn sự kiện Chúa Giêsu gặp người phụ nữ Samaria và diễn tiến của cuộc đối thoại này tại bờ giếng Giacóp. Trong lúc đó, các môn đệ đă vào thành mua thức ăn.
1) Chúa Giêsu ngỏ lời trước: “Xin bà cho Tôi uống nước” (Ga 4:7b). Danh từ bà [mulier ] Chúa Giêsu dùng ở đây cũng một danh từ mà Chúa dùng cho Đức Mẹ (Ga 19:26b), tỏ ra sự kính trọng. Người phụ nữ này rất đỗi ngạc nhiên, liền nói: “Sao thế! Ông là người Do Thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?” (c. 9). Trong lịch sử, có sự thù nghịch giữa người Do Thái và Samaria. Người Do Thái coi thường người Samaria, cho người Samaria là nhóm hỗn tạp về chủng tộc (x. 2 V 17:24tt), lạc đạo (chỉ công nhận Ngũ Thư) và ly giáo (thờ phụng nơi núi Garizim thay v́ Giêrusalem). Chúa Giêsu, không coi thường người Samaria, hơn nữa, trong trường hợp này, lại là người phụ nữ. Đây là điều khác thường: Chúa giao thiệp với phụ nữ và hơn nữa phụ nữ người ngoại. Sự khởi đầu của Chúa không ngừng lại ở câu hỏi đầy ngạc nhiên của người phụ nữ, nhưng lại tiếp tục, tiếp tục một cách thách thức hơn: “Nếu bà nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với bà: ‘cho tôi nước uống,’ th́ hẳn bà đă xin, và người ấy ban cho bà nước hằng sống” (c. 10). Với thách thức này, người phụ nữ tiếp tục: “Thưa Ngài, Ngài không có ǵ để múc, mà giếng th́ sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước?” (c. 11). Chúa Giêsu không chỉ nói đến nước từ giếng Giacóp, nước Người muốn nói, chính là nước hằng sống: “Ai uống nước này sẽ c̣n khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho th́ không bao giờ c̣n khát nữa, v́ nước Ta cho ai th́ nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời” (c. 13b-14). Người phụ nữ hy vọng khi có nước Chúa Giêsu ban sẽ không đến múc nước tại giếng này nữa. Người phụ nữ này đến kín nước vào giờ thứ sáu [12 giờ trưa] (c. 6b) để tránh sự đụng chạm hoặc ḍm ngó của những người khác v́ cuộc sống của bà, mà chính Chúa Giêsu sẽ nói cho bà ta biết khi cuộc đối thoại tiếp tục: “Bà hăy đi gọi chồng bà rồi trở lại đây” (c. 16). Người phụ nữ đáp: “Tôi không có chồng” (c.17). Chúa công nhận sự chân thật của bà: “Bà nói tôi không có chồng là phải, v́ bà có năm đời chồng rồi, và người đàn ông đang chung sống với bà bây giờ không phải là chồng bà, bà đă nói đúng đó” (c. 17b-18).
2) Biến đổi nơi người phụ nữ Samaria: Qua việc Chúa Giêsu nói đời tư của bà, bà đă cảm phục và chân nhận: “Thưa Ngài, tôi thấy rơ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đă thờ trên núi này, c̣n các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem” (c. 20). Đây là phút Chúa Giêsu làm cách mạng trong vấn đề thờ tự, không c̣n thờ trên núi Garizim như người Samaria, hoặc không thờ tại đền thờ Giêrusalem như người Do Thái, nhưng thờ Thiên Chúa “trong tinh thần và chân lư ” (c. 23-24). Tiếp đến Chúa Giêsu mặc khải cho bà biết chính Người là Đấng Messia, Đức Kitô (c. 26).
3) Người nữ truyền giáo: Sau khi biết Chúa Giêsu là Đấng Messia, một cuộc hoán cải bắt đầu, và người phụ nữ này quên hẳn việc kín nước. Việc ǵ bà ta làm tiếp theo? Bà đă chạy về thành bảo cho mọi người biết: “Mau hăy đến xem một ông đă nói cho tôi tất cả những ǵ tôi đă làm. Phải chăng ông đó là Đức Kitô?” (c. 29). Kết quả, cuộc truyền giáo đầu tiên do người phụ nữ này, là “dân chúng tuôn nhau ra khỏi thành và đến cùng Ngài” (c. 30). Khi gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Người đă lưu lại với họ hai ngày, xóa tan sự thù nghịch giữa người Do Thái và người Samaria. Khi Người ở đó, số người tin vào Người càng đông hơn. Họ nói với người phụ nữ: “Giờ đây không phải lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đă được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Đấng Cứu Thế” (c. 42).
Qua 3 điểm chính trên đây, chúng ta học được những ǵ?
a. Chúa ngỏ lời trước để xóa tan nghi kỵ. Chúng ta được mời gọi làm ḥa, ngỏ lời với người chúng ta không ưa, người chúng ta không thích, hay ngay cả những người lỗi phạm đến chúng ta (x. Mt 5:23).
b. Chúa Giêsu là suối mạch nước hằng sống. Mỗi người chúng ta có chân nhận Chúa là nước hằng sống để làm giảm cơn khát tinh thần của chúng ta hay không?
c. Người phụ nữ biến đổi: Người phụ nữ nghe Chúa nói về đời tư của chị, chị biến đổi, chị hối cải. Chúng ta được Chúa nói cho chúng ta bao lần qua Thánh Kinh, qua giáo huấn Hội Thánh, qua các vị lănh đạo tinh thần, qua tha nhân, qua hoàn cảnh, qua thiên nhiên, chúng ta có biến đổi, chúng ta có canh tân, cải hóa hay không? Đặc biệt mùa Chay là mùa Chúa và Hội Thánh vẫn luôn mời gọi chúng ta trở về, chúng ta đáp lại lời mời này như thế nào? Chúng ta đă biến đổi bằng cách tin thờ Thiên Chúa trong tinh thần và sự thật hay chưa? Chúng ta có tin nhận Chúa Giêsu là Đấng Messia, Đức Kitô, Đấng Cứu Tinh của đời chúng ta chưa?
d. Người phụ nữ trở thành vị truyền giáo cho dân làng: Chính bà là người mời gọi dân làng ra gặp Chúa Giêsu, hoặc một cách khác là giới thiệu Chúa Giêsu cho người khác. Chúng ta, mỗi người đă lănh nhận nhiệm vụ truyền giáo ngay từ khi chịu phép Rửa tội, có cố gắng đóng góp trong công cuộc truyền giáo của Hội Thánh chưa? Đóng góp bằng cầu nguyện, bằng khuyến khích ơn gọi, bằng đóng góp vật chất?
Ước mong những ǵ Chúa muốn nói với chúng ta trong bài Phúc Âm Gioan hôm nay, cho chúng ta một vài ư tưởng sống, và đặc biệt đem ra thực hành.
Lm. Phêrô Vơ Tá Đề, SVD